Tránh dài dòng tôi xin diễn giải luôn, quý vị sử dụng bàn tay trái, ghi nhớ 2 đồ hình đầu tiên về gán giá trị cho thập can và thập nhị địa chi như sau:
Giáp ất 1, bính đinh 2, mậu kỷ 3, canh tân 4, nhâm quý 5
Tý sửu 0, dần mão 1, thìn tỵ 2
ngọ mùi 0, thân dậu 1, tuất hợi 2
Sử dụng: Quý vị + giá trị của Can và Chi lại để lấy tổng ( nếu > 5 thì – 5 đi, vì đảm bảo tính đúng của ngũ hành)
kim 1 <-> thủy 2 <-> hỏa 3 -> thổ 4 <-> mộc 5
ví dụ:
Quý Dậu – Quý 5, Dậu 1: 5+1=6 (-5) = 1, là Kim
Tân Mùi – Tân 4, Mùi 0: 4+0=4, là Thổ
Mậu thìn – Mậu 3, Thìn 2: 3+2=5, là Mộc
Thiên can gán trên bàn tay như sau

Sau khi định được hành của bản mệnh, tiếp tục chúng ta sử dụng lý thuyết Mạnh Trọng Quý trong Hiệp Kỷ Biện Phương Thư để an lên bàn tay như sau, quý vị vui lòng ghi nhớ và thuộc cơ bản các tên nạp âm để lúc suy diễn dễ hơn

Ứng dụng, Do 12 Can đi theo cặp âm dương, nên chỉ cần ghi can dương, còn can âm quý vị tự suy diễn
Ví dụ cặp âm dương Tý Sửu – Dần mão – Thìn Tỵ – Ngọ Mùi – Thân Dậu – Tuất Hợi
Tuổi Quý Dậu tìm ra được hành Kim như trên, Dậu không có trên đồ hình, nhưng lại thuộc cặp âm dương Thân Dậu, bấm đốt được trỏ giữa, ra Kiếm ( suy diễn được Kiếm phong kim) vậy Quý dậu ngũ hành Kim có nạp âm Kiếm Phong kim
Chúc quý vị tinh tấn!
#caotuantuvi






0 Bình luận